Nhà thơ của những chia ly
Nếu Xuân Diệu sinh ra để viết thơ tình, Huy Cận viết thơ sầu thì Hoàng Nhuận Cầm được Thượng đế ưu ái cho một chức phận để làm thơ về những cuộc chia ly. Những cuộc chia ly trong thơ ông không chỉ dừng lại ở chia ly địa lý (khoảng cách xa xôi) hay sinh lý (âm dương cách biệt) mà còn có cả cách ly tâm lý (khi hai người thôi yêu nhau). Cả trong những bài thơ về người lính, ông cũng nhuộm lên chúng một màu biệt ly.

Tưởng như cả cuộc đời thơ của ông, dù vẫn có tình yêu, dù vẫn có tình đồng đội hay tình mẫu tử,… thì chúng luôn luôn tách biệt nhau như những hành khách trên những toa tàu tốc hành, biết đến nhau nhưng không thể đến bên nhau, tưởng gần gũi mà cũng như xa cách cũng như tiếc nuối:
Là cái phương chưa rõ cả mặt em
Phương ấy – Hoàng Nhuận Cầm
Chưa khóc kịp bao bạn bè nhắm mắt
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Hò hẹn là gì? Hò hẹn chưa phải là tình yêu, chỉ mới là bản lề nối đến tình yêu. Trông chờ hò hẹn người ta mãnh liệt hơn trông chờ tình yêu, lỡ dở hò hẹn người ta đau hơn tình yêu. Bài thơ mở ra với một cuộc hò hẹn muộn màng:
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến – Hoàng Nhuận Cầm
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cành tàn, ba cánh sắp sửa rơi
Khi em vừa đến thì mùa thu đã vội ra đi, chỉ kịp viết vội bức thư trên bàn “Bông cúc tím bốn cành tàn, ba cánh sắp sửa rơi”. Hình như trong bức thư bông cúc đó, có một tình yêu, có một sự đợi chờ. Mùa thu đã chờ em đến, nhưng em lại đến muộn, muộn đến mức mùa thu cay đắng không còn hy vọng phải ra đi. Nhưng mùa thu cũng để lại một bức thư cho em, như một hy vọng rồi em cũng sẽ đến.
Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến – Hoàng Nhuận Cầm
Như cánh chim trong mắt của chân trời
Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! dù đau xót một lần thôi
Mùa thu đi khỏi cửa thì ngoài chân trời có một cánh chim chao liệng. Mùa thu cũng muốn cất cánh bay như loài chim kia, quá chán ngán cái phũ phàng của đời, thà hót như một chú chim rồi ra đi cũng không muộn màng quá đáng. Nhưng bỗng có một điều gì khác lạ, một cái rùng mình chăng? Mùa thu lột bỏ màu áo phai sắc vàng và biến mất tăm. Chỉ còn thi sĩ đứng đó, thi sĩ nhớ đến những lời nào em nói. Hình như chúng đều đã thật xa xôi, xa xôi như ta và em vậy.

Và khi em không còn đứng ở cạnh ta, ta mới thấy mọi sự thật rõ ràng và hình như ta sợ hãi. Sợ hãi trước cái mị lực như phong như vũ của em “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. Ôi, có lẽ nào ta đã chán ngán và sợ hãi em. Sợ hãi phải chờ đợi em. Sợ hãi lại phải cuốn vào cơn lốc vô minh của em. Ta ngoái đầu nhìn lại căn nhà và bông hoa cúc tím. Em đã đến tự bao giờ…
Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó
Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến – Hoàng Nhuận Cầm
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa
Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào – nếu chán – gió lại ra
Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó
Dẫu mùa thu, hoa cúc cướp anh rồi…
Anh vững chãi, anh chờ đợi, anh là căn nhà nằm trong khu rừng vắng. Em, em mong manh nhưng em cũng lưu động, em là gió. Em đã thổi mát trái tim anh, nhưng như bất kỳ cơn gió nào, em không đợi ai cả. Em cứ thủng thẳng vào trong trái tim anh, làm kiến trúc tâm tư phải xiêu đổ, rồi em cứ thủng thẳng đi ra, không một lần ngoái lại. Bây giờ, em đứng ở đó, em không nhìn thấy anh nữa. Anh không yêu nữa chăng? Anh không biết nữa. Chỉ thấy mùa thu, chỉ thấy màu hoa cúc phủ trắng lên mặt anh, nhấn chìm anh…
Vĩ thanh
Tuổi trẻ Hoàng Nhuận Cầm đã vào sinh ra tử nơi bom đạn, về sau khi viết những bài thơ tình, cách dùng chữ, cách gieo vần, các hình ảnh, các ẩn dụ đều phản ánh rõ nét một người lính làm thơ. Chữ “cướp” trong câu thơ cuối có vẻ quyết đoán, có vẻ thẳng thừng của một người đã từng cầm súng, đã từng ra vào những giây phút sự sống và cái chết giao nhau. Toàn bộ bài thơ không hề xuất hiện câu thơ nào thể hiện rõ tình cảm nhân vật, không hề biểu cảm đầy đủ. Tất cả chỉ như những tấm ảnh không hoàn thiện được dán lại với nhau để khôi phục bức chân dung về người tình và những lỡ làng.
Bình luận