“Bài mùa thu đầu tiên” được trích trong tập “Xa thân” của tác giả Nguyễn Bình Phương – nhà thơ, nhà văn thời kỳ văn học đương đại. Cả tập thơ là hành trình con người đi vào lãng quên của số kiếp rong ruổi, không còn theo đuổi theo những ham đòi của thân xác mà đi lạc khỏi những thức tỉnh lý tính của bản thân.
Mang xống áo mùa thu
Bài mùa thu đầu tiên – Nguyễn Bình Phương
Làm mùa thu
Nhớ giấc ngủ ngàn thu trong đài sen úa
Nhớ giọng nói mềm mại như bóng râm
Chảy vào căn nhà đổ.
Ngày nào về đây xem rùa nổi giữa hồ
Sông Ngân xuống sông Hồng lên tiếng kêu xé ruột
Ngày nào ngó cơn giông trong suốt
Ta cầm tay ta hôn nhau
Tựa hoa nở thật nhẹ nhàng thật chậm.
Ngày nào theo em đi lấy rau cần
Gặp mái tóc rũ buồn mệt mỏi
Con diều vàng bén lửa giữa hoàng hôn.
Vừa trăng trăng rập rờn
Đã chuông rền loang loáng sóng hồ Tây.
Mùa thu len lén ra khỏi cây
Đi nào, đi với anh xuống đáy hồ xa thẳm.
Ở đó, người tìm đến vong thân qua giấc ngủ, cơn mơ mộng, sự say chếnh choáng và cơn điên bàng hoàng để quên đi thực tại đang tan tành trước mắt, hay kiếm hoài cảm hứng thánh linh, hoặc gieo mình vào sự phân mảnh của cái tôi đau đớn? “Bài mùa thu đầu tiên” vì thế, có thể nói, là một bản tình ca kỳ dị và ám gợi nhất trong văn đàn Việt Nam từ bao thế kỷ.
Xuyên suốt bài thơ là giọng thâm trầm của “anh” đang kể với “em” về những kỷ niệm như thể chỉ mình “anh” biết. Dòng thời gian lơ lửng hờ hững trôi qua như con thoi quay chậm một chiều thoảng gió, quanh đi quẩn lại chỉ dừng ở quá khứ với những dấu hiệu trong nỗi “nhớ” hay câu chuyện kể “ngày nào”. Mỗi câu “anh” nói đều mơ hồ ảo giác, mỗi điều anh tả đều mộng mị xa xôi, từng câu lời đều không trùng khớp để tạo nên ý nghĩa sự hiểu, chẳng khác nào mảnh gương đập vỡ giờ không thể ráp lại, như thực tại bị bóp méo thành vô thức siêu hình.

Một loạt từ diễn tả bước chuyển mình của thời gian hay lòng người: “ngàn thu, mềm mại, nhẹ nhàng, chậm, mệt mỏi, rền, len lén” – đều gợi lên sự uể oải lê lết, tỏa ra dư vị êm ái da diết của kỷ niệm, khiến ta liên tưởng đến dòng chảy của khe nguồn trong hang đá, âm ỉ ri rỉ trườn qua tảng phiến mơ hồ. Ở đó, mọi sinh tồn đều trên đà tan biến hoặc rơi nghiêng: “úa, chảy, đổ, xuống, rũ, rập rờn, đáy, thẳm, hoàng hôn”, biểu hiện từ đài sen tàn héo đến căn nhà sụp đổ, từ sông Ngân kêu xé đến mái tóc nàng rủ vai, cuối cùng là hai ta theo lời thủ thỉ của anh đọa xuống dòng nước xanh thăm thẳm. Chính những tín hiệu ấy cho thấy hình ảnh của mùa thu – khoảng mùa của sự rơi rụng và tàn úa trong năm, hay cũng là đoạn thời gian “già cỗi” trong cuộc đời mỗi con người.
Trong thi phẩm có nhắc đến bốn địa điểm gắn liền với nước nhưng có tới hai chốn thuộc về cõi “không biết” và ảo ảnh là sông Ngân và “hồ xa thẳm”, còn sông Hồng và sóng hồ Tây là hai chỗ có thực ở Hà Nội. Chi tiết này càng tô đậm rõ ranh giới giữa cõi thực – ảo, tỉnh táo – mộng mị, ý thức – vô thức và sáng suốt – hoang điên. Dường như, những điều “anh” nói với “em” không thuộc về cuộc đời chúng ta đang sống, thoát khỏi mọi lý tính suy nghĩ thông thường, nó cheo leo giữa hai bờ thực tại, lai thể giữa nhiều cõi biến vô biên, là trạng thái chuyển giao đầy mơ màng của một nguồn năng lượng tự nhiên lớn lao và bí ẩn.

Nếu như sông Ngân gắn với huyền thoại chảy trên bầu trời thì “hồ xa thẳm” anh gọi mời em xuống nằm ở đáy đất xa xôi, vì thế, “đi nào, đi với anh…” thoạt nghe như lời rủ cùng nhau tự trẫm, nhưng sâu xa hơn, đó có thể là tiếng nói chiêu dụ mình đọa xuống đáy hồn người hoang vu, cái thế giới rộng bao la mà cả hai chúng ta chưa thể nào chạm đích. Và, len lỏi giữa từng dòng thơ lững thững, ta luôn nhìn thấy sự xuất hiện của tia sáng lóe ra: “trong suốt, lửa, trăng trăng, loang loáng…”.
Không lời nào diễn đạt cảm xúc, không đoạn nào nói đến trái tim, nhưng đọc bài thơ khiến ta cảm thấy man mác buồn, nỗi buồn âm thầm rên rỉ như dòng nước bị siết kêu rít, nỗi buồn mù mịt của một người vảng vất trong nỗi đau, nỗi buồn không có màu thực tại mà nhúng chìm trong ám dụ ảo giác với những cơn ác mộng du. Bằng lối diễn tả giàu tính tượng trưng, siêu thực kết hợp với sự sử dụng thể thơ tự do phóng túng, Nguyễn Bình Phương đã biến trạng thái “ngủ ngàn thu” thành dạng thức hiện tồn phổ quát của con người, qua đó, khiến mỗi câu thơ thành một mảnh vụn ký ức, mỗi dòng chữ thành một sinh thể tách riêng, mỗi từ âm thành tiếng gọi của vùng mê sảng khó đoán.
“Bài mùa thu đầu tiên” vì thế sẽ còn là một ẩn số trong tâm thức người đọc, khiến ta còn nghĩ hoài về nó trong sự sưng tấy của ý thức và siêu thực.
Bình luận